Vài Suy Nghĩ về Giáo Dục

Đoạn 71-81

Đoạn 71

Sau khi đã nhận xét về tầm ảnh hưởng lớn mạnh của bạn bè và thích bắt chước người khác của tất cả chúng ta – nhất là lúc còn trẻ – tôi muốn lưu ý các bậc phụ huynh một điều: người nào muốn con cái kính trọng và nghe lời mình thì trước hết phải tôn trọng chúng. Maxima debetur pueris revenrentia (ta phải hết lòng kính trọng trẻ con). Trước mặt đứa trẻ ta không nên làm gì mà ta không muốn nó bắt chước làm theo. Nếu chẳng may ta làm điều gì mà  khi đứa trẻ làm ta cho đó là một lầm lỗi, ta có thể chắc chắn rằng, để chạy tội, nó sẽ nói là nó noi gương ta; ta sẽ không dễ dàng gì để bắt lỗi và sửa chữa nó. Nếu ta phạt nó về một hành động mà nó thấy chính ta đã làm, nó sẽ nghĩ rằng sự nghiêm khắc của ta không do tình thương và không phải vì ta lo lắng sửa chữa lỗi lầm của nó; nó chỉ xem đó là do sự cáu kỉnh và sự độc đoán của một người cha không muốn cho con mình tự do hưởng những thú vui mà không có một lý do chính đáng nào. Và nếu ta cho rằng ta có tự do làm bất cứ việc gì vì đã trưởng thành, và rằng con trẻ không có quyền làm như vậy, thì cái gương của ta sẽ có ảnh hưởng mạnh hơn và càng làm cho hành động của ta thêm hấp dẫn đối với trẻ. Ta phải luôn luôn nhớ rằng trẻ con muốn làm ra vẻ người lớn sớm hơn ta tưởng; và chúng thích mặc quần, không phải vì lối cắt hay hay vì được thoải mái hơn, nhưng vì mặc quần là một dấu hiệu hay một bước tiến đến tuổi trưởng thành. Những gì mà tôi nói về thái độ của người cha trước mặt con cái cũng áp dụng cho tất cả những ai có quyền hành trên đứa trẻ, hoặc những ai ta muốn con trẻ phải kính trọng.

Đoạn 73

Bất cứ trẻ con học cái gì, ta cũng không nên tạo thành một gánh nặng cho chúng, hay là bắt chúng xem đó như là một nhiệm vụ. Mọi việc học hành trong những điều kiện đó sẽ gây nên khó chịu; trẻ sẽ thấy chán ngấy dù rằng trước đó chúng có thích hay dửng dưng với việc ấy. Ta hãy ra lệnh cho một đứa trẻ chơi con vụ mỗi ngày vào một giờ nhất định dù nó có muốn chơi hay không; hãy ép buộc nó, chơi nhiều giờ sáng và chiều, xem trò chơi này như là một bổn phận, ta sẽ thấy rằng trẻ sẽ chán ngấy trò chơi ấy cũng như là chán ngán bất cứ trò chơi nào mà nó bị ép buộc chơi trong những điều kiện như vậy. Người lớn không như vậy sao? Những gì mà họ tự làm một cách thích thú chẳng phải đã trở thành gánh nặng khi họ phải làm như là một nhiệm vụ hay sao? Ta nghĩ gì về trẻ con cũng được, nhưng chắc chắn là chúng cũng có lòng kiêu hãnh như người lớn; chúng muốn chứng tỏ rằng chúng có đầu óc tự do, rằng những việc làm tốt là do chính chúng làm và chúng hoàn toàn độc lập, như người lớn chúng ta.  Xin hãy nghĩ về điểm này.

Đoạn 74

1.      Một hệ quả của điều vừa nói trên là ta không nên bắt trẻ con làm ngay cả những việc ta muốn chúng làm, mà chỉ nên bắt chúng làm những việc chúng có sở thích hoặc chú tâm vào. Những người thích đọc sách, viết văn, chơi nhạc, … dư biết rằng có những lúc chính họ cũng không thích thú làm các thứ đó; và nếu vào những lúc đó, họ tự ép mình đọc sách, viết văn, chơi nhạc thì chỉ làm cho họ bực bội và mệt nhọc. Trẻ con cũng vậy. Vậy ta nên chú ý quan sát sự thay đổi tâm trạng nơi đứa trẻ và ta hãy mau mau nắm lấy những cơ hội thuận tiện khi nó sẵn sàng thu nhận những gì mà ta dạy; và nếu khi nó không tự chuẩn bị sẵn sàng thì, ta nên tập cho chúng có những sở thích ấy, trước khi trí óc chúng bị bận vào những việc khác.

Tôi không cho rằng đó là một việc khó khăn đối với một người thầy khôn ngoan; ông ta đã quan sát tính tình của học trò; ông ta sẽ không thấy gì khó khăn tạo nơi trí óc của đứa trẻ những kích thích hầu làm cho nó thích thú học; làm như vậy, ta sẽ tiết kìệm được vô số thời giờ và ít tốn công sức hơn: bởi vì một đứa trẻ thích thú học tập sẽ học được ba lần nhiều hơn, và nó sẽ phải mất gấp đôi thì giờ và công sức để học nếu nó bị ép buộc học hành một cách miễn cưỡng. Nếu việc này được thi hành một cách đúng đắn, ta có thể cho đứa trẻ chơi đùa thỏa thích và lại còn có đủ thì giờ để học những gì thích hợp với lứa tuổi của nó. Nhưng trong phương pháp giáo dục thông thường, người ta không làm và sẽ không làm như vậy. Cái kỷ luật cứng rắn của roi vọt được căn cứ trên những nguyên tắc khác: nó không tìm cách làm cho sự học hành trở nên thích thú, nó không lưu ý đến tâm trạng của đứa trẻ, không tìm kiếm những cơ hội thuận tiện để học hỏi. Và thật vậy, khi mà bằng sự cưỡng ép và bằng roi vọt ta đã làm cho đứa trẻ chán ghét học tập thì thật là lố bịch nếu ta mong nó tự ý ngừng chơi đùa và tự đi kiếm cơ hội để học tập; trong khi nếu ta biết cách làm tốt thì dù rằng ta muốn đứa trẻ học cái gì đi nữa, đứa trẻ sẽ thích thú học như là chơi và chơi như là học. Đối với trẻ con, khi đó sự khó nhọc giữa học và chơi trở nên giống nhau, nhưng chúng không lấy thế làm phiền, vì chúng thích dược náo nhiệt, và những sự thay đổi và nhiều loại khác nhau là những điều khiến chúng vui thích. Dưới mắt đứa trẻ, cái hấp dẫn trong trò chơi là nó hoàn toàn được tự do; nó tự làm khổ tùy theo ý muốn (ta có thể thấy rằng nó không bao giờ sợ phí sức). Ngược lại, học hành là một sự cưỡng ép: người ta gọi nó, người ta ép buộc nó, người ta dùng sức mạnh bắt nó học. Ngay từ đầu đó là những gì làm cho nó ngần ngại và nguội lạnh: nó muốn có sự tự do của nó. Hãy làm sao để chính đứa trẻ xin thầy cho nó học cũng như nó đã nhiều lần gọi bạn bè đi chơi; thay vì để thầy giáo gọi nó đi học, nó sẽ hài lòng thấy mình được tự do trong việc học cũng như trong các việc khác; nó sẽ hăng hái trong việc học cũng như trong lúc chơi; nó sẽ không thấy có sự khác biệt giữa học và chơi. Nếu ta áp dụng phương cách ấy một cách thận trọng, ta có thể hướng dẫn đứa trẻ học tất cả những gì mà ta muốn dạy nó. Tôi công nhận rằng việc khó khăn nhất là giáo dục đứa con cả, nhưng một khi nó đã đi vào con đường ta muốn, thì nhờ nó, ta sẽ dễ dàng thành công với những đứa sau.

Đoạn 81

Một việc có thể gây ngạc nhiên là tôi đề nghị lý luận với đứa trẻ; nhưng thật ra, tôi thấy đó là phương cách tốt nhất để đối xử với trẻ con. Chúng hiểu lý luận ngay khi chúng biết nói; và nếu tôi không lầm thì chúng thích được đối xử như những sinh vật có lý trí sớm hơn là ta tưởng. Ta nên nuôi dưỡng niềm kiêu hãnh đó ở chúng, và ta phải sử dụng càng nhiều càng tốt niềm kiêu hãnh đó như là một dụng cụ để hướng dẫn chúng.

Nhưng khi tôi nói đến lý luận, tôi chỉ muốn đề cập đến các loại lý luận thích hợp với khả năng và sự hiểu biết của đúa trẻ. Không ai có thể nghĩ rằng ta có thể lý luận với một đứa trẻ lên ba hay lên bảy như với một người trưởng thành. Các bài diễn văn dài dòng, các lý luận triết lý chỉ là cho nó ngạc nhiên và bối rối chứ không dạy dỗ gì được. Khi tôi nói phải đối xử với trẻ con như là những sinh vật có lý trí, tôi cho là ta phải làm cho nó hiểu được bằng những cử chỉ dịu dàng của ta, bằng thái độ trầm tĩnh khi ta sửa chữa nó, rằng cái gì ta làm là hợp lý, ích lợi và cần thiết cho nó; rằng không phải là do ta bốc đồng, xúc động mà ta bắt nó làm cái này hay cấm cái kia. Trẻ con có thể hiểu được việc này; và tôi không nghĩ rằng ta có thể khuyên bảo trẻ con chấp nhận một tính tốt hay tránh xa một tật xấu; nhưng ta phải dùng những lý luận thích ứng với sự hiểu biết và tuổi tác của chúng, và phải giảng giải một cách rõ ràng, ngắn gọn. Các nguyên tắc căn bản của bổn phận, các cội rễ của sự phải và sự trái mà từ đó sinh ra bổn phận, tất cả những việc này cũng không phải dễ dàng mà giải thích ngay cả cho người lớn, khi họ không quen trừu tượng hoá suy nghĩ của họ từ các ý kiến thông thường mà họ nhận được. Trẻ con lại càng không thể lý luận trên những nguyên tắc xa vời. Chúng không có khả năng suy luận dài dòng. Các lý luận mà chúng chấp nhận đuợc là những lý luận quen thuộc, ngang tầm với suy nghĩ của chúng, những suy luận, mà ta có thể nói, phải giống như những gì chúng cảm được và sờ được. Nhưng tuy nhiên, nếu ta lưu ý đến tuổi tác, đến tâm trạng và sở thích của đứa trẻ, không bao giờ ta thiếu những động cơ đủ mạnh để thuyết phục nó. Và nếu ta không tìm được một động cơ nào đặc biệt hơn, thì vẫn có một việc khiến cho nó xa lánh lỗi lầm mà nó có thể phạm phải, đó là dạy cho nó biết xấu hổ trước những việc làm sai quấy và làm ta phật lòng.