Tại sao sự bình đẳng đạo đức giữa con người là cần thiết nhưng chưa đủ đối với quyền công dân tại Mỹ?
Avi Wolf
Bài viết sau đây lẽ ra không cần thiết. Nhưng dù sao thì chúng ta vẫn phải viết nó.
Nguyên tắc bình đẳng đạo đức giữa con người —ý tưởng rằng tất cả mọi người, với tư cách là con người và không có ngoại lệ, đều có quyền được hưởng những quyền lợi nhất định, được tôn trọng, được đối xử với nhân phẩm và được coi là cứu cánh chứ không phải phương tiện—có lẽ là cuộc cách mạng quan trọng nhất mà Thời kỳ Khai sáng mang lại. Có lẽ ngoại trừ chủ nghĩa tư bản hiện đại, không có ý tưởng nào khác đã giải phóng nhiều người đến vậy, bảo vệ nhiều người khỏi sự chuyên chế và giúp nhiều người phát triển thịnh vượng đến vậy.
Quy tắc này hoàn toàn phổ quát, không cần dấu ghi chú nào cả, và tất cả mọi người đều bình đẳng.
Đây là nguyên tắc nền tảng của nền dân chủ hiện đại, đặc biệt là của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, được ghi trong Tuyên ngôn Độc lập và được trang trọng ghi trong Hiến pháp. Và mặc dù tuyên bố của Tuyên ngôn rằng “tất cả mọi người đều được tạo ra bình đẳng” đi kèm với một dấu ghi chú lớn liên quan đến người không phải da trắng, Abraham Lincoln không cần phải suy nghĩ phức tạp để lập luận rằng nguyên tắc này thực sự mang tính phổ quát, không cần dấu ghi chú nào cả, và tất cả mọi người đều bình đẳng.
Những người bảo thủ có thể phản đối quan điểm của phe cánh tả về bình đẳng, coi đó là sự bình đẳng về kinh tế xã hội hoặc bình đẳng về kết quả. Nhưng tất cả những người bảo thủ hiện đại đều nên tán thành nguyên tắc bình đẳng đạo đức giữa con người. Thật vậy, nếu chủ nghĩa bảo thủ hiện đại muốn có nền tảng triết học vững chắc thì không thể nhận định khác được.
Hãy lấy thí dụ về phong trào bảo vệ sự sống, dù là chống phá thai hay trợ tử.[1] Nguyên tắc cốt lõi của phong trào này là mọi sinh mạng đều đáng được sống và bảo tồn, và chúng ta không có quyền phân biệt đối xử và nói rằng sinh mạng này “có giá trị hơn” sinh mạng khác.
Hoặc hãy xem xét khái niệm về quyền công dân và quyền dân sự được trang trọng ghi trong Tuyên ngôn Nhân quyền[2] và các văn kiện khác, những văn kiện phác thảo những gì Isaiah Berlin gọi là “các quyền tự do tiêu cực[3].” Điều này cũng hoàn toàn dựa trên ý tưởng rằng tất cả mọi người, với tư cách là công dân, đều bình đẳng trước pháp luật, điều này lại giả định một mức độ bình đẳng đạo đức quan trọng.
Nếu loại bỏ nguyên tắc bình đẳng đạo đức giữa con người, cả hai điều đó đều sụp đổ. Việc nói về quyền cá nhân đồng thời lại lập luận về sự thấp kém về mặt đạo đức của một số người là điều không thể. Bình đẳng đạo đức và quyền con người hoặc là phổ quát cho mọi người, hoặc là sự biện hộ đặc biệt cho đặc quyền theo nghĩa ban đầu của thuật ngữ này — “luật riêng” dành cho những người may mắn. Như Lincoln đã lưu ý về vấn đề nô lệ, đây là sự khác biệt không thể chia tách. Nó chỉ có thể hoặc là điều này, hoặc là điều kia.
Hơn nữa, vì nguyên tắc này là nền tảng của các quyền tự do và quyền lợi mà những người bảo thủ vô cùng trân trọng, nên người ta sẽ nghĩ rằng họ sẽ đấu tranh hết mình để bảo vệ nó.
Sự từ bỏ bình đẳng của phe bảo thủ
Nhưng điều này thường không xảy ra, đặc biệt là đối với người Mỹ da đen. Trong trường hợp này, phe bảo thủ có một lịch sử đáng buồn khi hoặc phủ nhận sự bình đẳng về mặt đạo đức hoặc tạm thời đình chỉ nó.
Một trong những ví dụ rõ ràng nhất là sự ám ảnh của phe cánh hữu đối với sự khác biệt về chỉ số IQ giữa các chủng tộc, một mối quan tâm mà đơn giản là không thể giải thích bằng lý do muốn gây sốc hoặc “chỉ đơn thuần tìm kiếm sự thật, bất kể sự thật đó đau lòng đến mức nào”. Trong vấn đề này, quá nhiều người thuộc phe cánh hữu đã bộc lộ mong muốn tin rằng con người không bình đẳng, và rằng một số người “xứng đáng” hơn những người khác. Những lời nói suông mà họ đưa ra để phủ nhận điều này hoàn toàn không thuyết phục.
Việc những người bảo thủ liên tục từ chối coi trọng các biện pháp bảo vệ hiến pháp trong cuộc chiến chống tội phạm và ma túy cũng cho thấy niềm tin vào sự bình đẳng về đạo đức có những giới hạn nhất định đối với phe cánh hữu. Cho dù là do nỗi sợ hãi tội phạm thực sự nhưng sai lầm hay sự thù địch trắng trợn, nguyên tắc này lại bị gạt bỏ mỗi khi tình thế trở nên khó khăn. Không giống như trường hợp của Lincoln, cần rất nhiều lập luận phức tạp để giải thích tại sao sự bình đẳng đột nhiên không còn được áp dụng, nhưng sự phủ nhận vẫn xảy ra.
Điều này cho thấy rõ rằng, mặc dù sự bình đẳng đạo đức giữa con người là một phần cần thiết của triết lý bảo thủ liên quan đến chủng tộc, nhưng nó vẫn chưa đủ. Có điều gì đó đang ngăn cản quá nhiều người thuộc phe cánh hữu tiến tới việc bảo vệ nguyên tắc này một cách nghiêm túc và đầy tâm huyết, thay vì chỉ là một niềm tin trừu tượng có thể bị gạt bỏ khi cần thiết.
Ngôi thứ nhất số nhiều
Trong lập luận bảo vệ quốc gia, nhà triết học bảo thủ Roger Scruton cho rằng nguyên tắc nền tảng của một quốc gia là ý thức cộng đồng và sự gắn kết, một “ngôi thứ nhất số nhiều” hay “chúng ta,” điều này là tiền đề cho mọi cuộc thảo luận tiếp theo về đất nước—quá khứ, hiện tại và tương lai của nó, cũng như mối quan hệ giữa những người tạo nên cộng đồng đó. Như Scruton đã lưu ý, chính lời mở đầu của Hiến pháp “Chúng tôi, nhân dân” đã cho phép phần còn lại của văn kiện được hình thành, một thỏa thuận rằng các quyền được liệt kê không phải là triết lý trừu tượng mà là một khế ước xã hội giữa những người Mỹ.
Việc một số người bảo thủ không coi người Mỹ da d0en là một phần của “chúng ta” khiến họ khó có thể áp dụng đầy đủ nguyên tắc bình đẳng đạo đức con người đối với nhóm người này. Quá nhiều cuộc thảo luận của những người bảo thủ về người Mỹ da đen diễn ra như thể đang nói về những người ở một quốc gia xa lạ hoặc đến từ hành tinh khác, chứ không phải là những công dân đồng bào. “Nước Mỹ thực sự” trong tưởng tượng — trong tâm trí của cả các nhà bình luận và nhiều cử tri bảo thủ — thường không bao gồm đầy đủ người Mỹ da đen, coi họ chỉ là những vị khách được dung thứ ở mức tốt nhất và là sự hiện diện không được hoan nghênhở mức tệ nhất.
Và đây không chỉ là lỗi của những người bảo thủ – hãy xem bài viết của Noah Berlatsky trên Arc về việc điều này cũng đang xảy ra ngay cả trong chủ nghĩa xã hội.
Điều này sai cả về mặt thực tế lẫn đạo đức. Trước hết, người Mỹ da đen, đặc biệt là những người có nguồn gốc từ nô lệ và những người được giải phóng trước năm 1865, là một trong những nhóm người Mỹ gắn bó sâu sắc nhất với đất nước này và đã không biết đến bất kỳ quê hương nào khác trong nhiều thế kỷ, dù tốt hay xấu. Họ đã chiến đấu trong tất cả các cuộc chiến tranh của Mỹ ngay cả khi bị từ chối những quyền mà họ xứng đáng được hưởng. Cuộc đấu tranh của họ để được hòa nhập và chấp nhận chủ yếu sử dụng ngôn ngữ Mỹ và dựa trên các nguyên tắc của Mỹ. Nếu có bất kỳ nhóm nào xứng đáng được coi là người Mỹ chính gốc, thì đó chính là họ.
Điều này cũng sai lầm xét về khái niệm đã lỗi thời thường được sử dụng là “nền văn minh phương Tây”, mà quá nhiều người thuộc phe cánh hữu lạm dụng như một mật mã ám chỉ “nền văn minh của người da trắng.” Các nền văn minh thường rộng lớn và đa dạng hơn nhiều so với những người đã tạo ra chúng. Người Trung Đông và người châu Phi là một phần cốt lõi của La Mã và sau này là Đế chế Byzantine. Ethiopia là một vương quốc Cơ đốc giáo từ nhiều thế kỷ trước cả Scandinavia.
Nền văn minh phương Tây dựa trên những nguyên tắc phổ quát là tất cả mọi người đều có thể hưởng thụ và đóng góp vào — như các hiền triết Do Thái đã nói về Kinh Torah: “Tất cả những ai muốn đều có thể đến và tham gia.” Hãy nhìn vào sự thành công của nền dân chủ tự do trên toàn cầu và giữa nhiều dân tộc khác nhau, bất chấp sự khác biệt to lớn về lịch sử và văn hóa.
Những suy nghĩ cuối cùng
Những nguyên tắc về bình đẳng đạo đức giữa con người và cộng đồng công dân là nền tảng của bất kỳ cuộc thảo luận nào về chủng tộc. Chúng phải được coi là điều hiển nhiên và không cần chứng minh – và nếu bị thách thức công khai, chúng phải được bảo vệ một cách kiên quyết và liên tục. Chúng ta không phải là những sinh vật chỉ biết lý luận thuần túy, và nếu muốn có mối quan hệ chủng tộc tốt đẹp hơn, chúng ta phải chấp nhận một cách trọn vẹn rằng một người Mỹ là một người Mỹ, bất kể chủng tộc nào. Quyền của anh ấy là quyền của tôi và ngược lại. Khi người ấy bị ngược đãi, một thành viên trong cộng đồng của tôi cũng đang bị tổn thương.
Tất cả những điều này lẽ ra phải hiển nhiên. Có vẻ như nhiệm vụ của những người bảo thủ trong thời đại ngày nay là nhắc nhở mọi người về những điều mà họ vốn dĩ đã phải biết.
Nông Duy Trường chuyển ngữ
© Học VIện Công Dân, Dec 2025
Tác giả: Avi Wof là một cố vấn tại Trường Công tác Xã hội Crown. Ông cũng là một blogger theo quan điểm bảo thủ.
Nguồn: https://medium.com/arc-digital/civil-rights-and-moral-equality-842a0405dca
[1] Trợ tử (euthanasia ahy assisted death) là quan niệm cho phép những người bị bệnh nan y không còn phương cứu chữa được phép tìm cái chết để người bệnh không còn chịu đựng những đau đớn về thể xác. Một số nước cho phép trợ tử. Ở Mỹ có 11 tiểu bang cho phép trợ tử.
[2] Tuyên ngôn Dân quy (Bill of Rights) là 10 tu chính án đầu tiên của Hiến pháp Mỹ, quy định một cách cụ thể những quyền công dân mà chinh1 quyền không được vi phạm. Đặc biệt là Tu chính thứ nhất CẤM quốc hội không được làm luật nhằm hạn chế nhữn quyền tự do cơ bản của con người như tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, tự do tín ngưỡng, v.v.
[3] Tự do tiêu cực , là sự tự do khỏi những trở ngại, ràng buộc hoặc can thiệp từ bên ngoài, nhất là từ phía chính quyền. Tự do tích cực là tự do hành động, làm chủ bản thân và phát huy tiềm năng của mình; điều này thường đòi hỏi phải có nguồn lực hay trợ giúp từ bên ngoài, thí dụ quyền được đi học hay được chữa trị bệnh hoạn.
ủ đối với quyền công dân ở Mỹ?
Avi Wolf

